Văn & Chữ

Về Giả Thụy của Hồng Lâu Mộng (phần 3): bài học cảnh giác về “si”, về “sắc” cho… Bảo Ngọc 09. 01. 17 - 10:12 pm

Anh Nguyễn

(Tiếp theo phần 2)

Giả Thụy bị quỷ bắt xuống địa ngục

Theo thiển ý của tôi, đoạn trích ở phần 2 là một trong những đoạn có nhiều tầng ý nghĩa nhất của Hồng Lâu Mộng.

Thứ nhất, nếu hành trình chịu đựng của Giả Thụy có nhiều bậc thì đây chính là nấc thang cuối cùng. Nỗi thống khổ y chịu đựng theo độ mê đắm mà tăng lên, y dần đánh mất sức khỏe, danh dự, ý chí, cuối cùng là mạng sống. Thứ “tinh” được nêu trong truyện là ẩn dụ cho tinh khí, tinh thần, tinh hoa của Giả Thụy. Kết cục của Giả Thụy là bài học cảnh tỉnh về sự mê muội tình dục. Sự dâng hiến cho tình của Giả Thụy tuy không đẹp đẽ thơ mộng nhưng hoàn toàn triệt để. Giả Thụy quả thực không còn gì để mất nữa rồi!

Tiếp theo, cần bàn về bộ xương người. Trong triết học phương Tây, đây là motif thường bắt gặp trong những memento mori – sự nhắc nhở về tính hữu hạn của đời người. Ai ai rồi cũng phải chết.

Tác phẩm “All is vanity” của Charles Allen Gilbert

Đặt trong bối cảnh Hồng Lâu Mộng, bộ xương lại mang thông điệp Phật giáo rõ rệt. Trong Đại Trang Nghiêm Kinh từ thế kỉ thứ năm đã có câu chuyện tương tự: một vị Phật dùng pháp lực biến một kỹ nữ thành bộ xương cho các đệ tử nhìn rõ bản chất của nhan sắc. Chữ “sắc” trong tiếng Hán vừa chỉ sắc đẹp, vừa chỉ hình tướng mà con người có thể cảm nhận được, đối ngược với không là hình tướng mà mắt phàm không thấy được. Nhưng vạn vật luân chuyển, sắc tức thị không, không tức thị sắc. Muôn vật đều là không có thật, là phù du. Phượng Thư tươi đẹp thật nhưng má hồng môi son rồi cũng thành cát bụi cả. Ngoài ra bộ xương còn là lời cảnh tỉnh: nếu Giả Thụy không quay đầu, tất mau có kết cục như bộ xương này. Ở hồi đầu truyện Chân Sĩ Ẩn khi giải nghĩa bài thơ “Hảo Liễu ca” đã nói:

Xưa sao phấn đượm hương nồng.
Mà nay sương nhuộm như bông trên đầu?
Bãi tha ma có xa đâu,
Là nơi màn thắm là lầu uyên ương.

Tất cả “sắc” đều sẽ tan biến, chỉ có sự tan biến là bất biến. Đã biết tình, sắc, dục là vô thường mà vẫn mê đắm, chẳng phải ngu ngốc sao? Thế nhưng Giả Thụy không dám đối mặt với thực tế đó. Một mặt y sợ cái chết, mặt khác y quá quyến luyến chữ “sắc” đến nỗi không thể rời bỏ. Oái oăm thay, chính việc không chịu thừa nhận tính vĩnh hằng của sự chết đã đẩy Giả Thuỵ nhanh tới nó.

Thứ ba, không thể bỏ qua chiếc gương “Phong nguyệt bảo giám”. Gương vốn là biểu tượng cho tâm hồn. Nhưng thế giới song đôi trong gương cũng là ẩn dụ cho sự gắn bó mật thiết giữa các cặp phạm trù sắc-không, thực-hư, âm-dương. Nếu Phượng Thư ngoài đời là sắc, thì Phượng Thư trong gương lại càng mơ hồ, là hư huyền của hư huyền. Phượng Thư trong gương là do trí tưởng tượng của y hun đúc nên, không có quan hệ với mợ Hai Liễn ngoài đời kia. Thay vì nhìn vào mặt trái để thấy rõ chân lý, Giả Thụy lại đắm chìm vào thế giới ảo của mặt phải. Công cuộc mò trăng đáy nước này khiến y phải trả giá bằng mạng sống. Đến phút chót, y vẫn muốn mang chiếc gương theo mình xuống âm ti, thật đáng cười mà cũng đáng thương.

Khi Giả Đại Nho, ông nội Giả Thụy định đem đốt chiếc gương, trong gương có tiếng nói vọng ra: “Ai bảo soi mặt phải! Các ngươi tự mình lấy giả làm thực, việc gì lại đốt gương của ta?” Đại Nho nghĩa đen là “nhà nho lớn,” nhưng lại họ “Giả,” ý nói lão chỉ là nhà nho giả hiệu. Tào Tuyết Cần đã dựng lên hình ảnh Giả Đại Nho để giễu cợt những kẻ theo đạo Khổng nhưng đầu óc xơ cứng, hủ lậu, không nhìn ra được bản chất của sự vật. Nhân vật này lúc trước rèn dạy Giả Thụy bằng cách đánh đập, sau lại muốn đốt chiếc gương, đúng là chữa bệnh từ ngọn, mê lầm không lối thoát.

Cuối cùng, chúng ta cần phân tích hình ảnh Giả Thụy khi chết. Hồng Lâu Mộng không thiếu những chi tiết phòng the, nhưng chỉ hai lần Tào Tuyết Cần nhắc đến chi tiết “giấc mơ ướt” một cách trần trụi như vậy: Giả Thụy khi chết, và khi Bảo Ngọc tỉnh dậy sau khi ân ái với nàng tiên.

Tập Nhân đến buộc hộ thắt lưng, vừa thò tay vào đùi Bảo Ngọc, thấy một đám dính như hồ lành lạnh, Tập Nhân giật mình co tay lại hỏi:

- Cái gì thế này?

Bảo Ngọc đỏ bừng mặt, bấm mạnh tay Tập Nhân một cái.

Theo các nhà Hồng học như Jinsheng Yi đã chỉ ra, sự giống nhau giữa Bảo Ngọc và Giả Thụy có ý nghĩa quan trọng. Nói một cách đơn giản, Giả Thụy chính là bài học cảnh giác cho Bảo Ngọc. Tên chữ của Giả Thụy là Thiên Tường”, nghĩa đen là “điềm báo của trời”. Bảo Ngọc là ngọc quý, Thụy cũng là ngọc. Con đường tình ái mà Bảo Ngọc bước chân vào ở hồi năm, tuy phần nào trong sạch hơn Giả Thụy, về bản chất không khác gì nhau. Bảo Ngọc lần đầu trải qua sự mất mát tinh lực của người đàn ông sau giấc mơ với nàng tiên. Nếu Bảo Ngọc không biết kiềm chế, để điều đó lặp đi lặp lại, ắt sẽ phải chết như Giả Thụy. Nói rộng hơn, tính cách “phong lưu gây lấy nợ vào thân” của Bảo Ngọc chính là tiền đề cho những đau xót, thất vọng, nhục nhã trong đời cậu ta sau này: bị bố đánh, người hầu yêu và người tình phải chết, phải chứng kiến cảnh tan tác của các chị em,… Nỗi khổ mà Bảo Ngọc cũng như Giả Thụy gánh chịu, nói cho cùng, đều bắt nguồn từ một chữ “si.” Về cuối truyện, Bảo Ngọc đã kịp thời nhận ra chân lý “sắc sắc không không,” từ đó rẽ ngang, thoát khỏi luân hồi, đó vừa là bi kịch vừa là may mắn của Bảo Ngọc.

Kết luận lại, Giả Thụy là một nhân vật phụ nhưng số phận của y hàm chứa triết lý nhân sinh to lớn, có thể nói là đã hóa thành truyện ngụ ngôn răn dạy người đời. Mang Mang đạo sĩ và chiếc gương “Phong Nguyệt bảo giám” xứng đáng nhận giải bác sĩ phân tâm học của năm!

 

Ý kiến - Thảo luận

9:40 Sunday,12.2.2017 Đăng bởi:  Anh Nguyễn

@Phạm Tí: Khái niệm "đấu tranh vì tình yêu" là một khái niệm tương đối hiện đại. Còn tại sao trong Hồng Lâu Mộng nó không phải là một giải pháp thực tế cho Bảo Ngọc - Đại Ngọc thì có một số lý do mình có thể tạm đưa ra:

Thứ nhất, công khai chống đối sự sắp đặt hôn nhân của gia đình là tương đương với phản bội gia môn, hoặc là phải cùng
...xem tiếp

9:40 Sunday,12.2.2017 Đăng bởi:  Anh Nguyễn

@Phạm Tí: Khái niệm "đấu tranh vì tình yêu" là một khái niệm tương đối hiện đại. Còn tại sao trong Hồng Lâu Mộng nó không phải là một giải pháp thực tế cho Bảo Ngọc - Đại Ngọc thì có một số lý do mình có thể tạm đưa ra:

Thứ nhất, công khai chống đối sự sắp đặt hôn nhân của gia đình là tương đương với phản bội gia môn, hoặc là phải cùng nhau đi trốn, hoặc là cùng nhau tự sát (như Tư Kỳ và anh họ trong truyện.) Thái độ của giới phong kiến với những tình cảm gió trăng được thể hiện rõ qua đoạn Giả mẫu bàn chuyện văn nhân tài tử trong hồi 54:

Giả mẫu cười nói:
- Truyện ấy cũng cùng một lối như các truyện khác thôi, chỉ kể những giai nhân tài tử, chẳng có thú gì. Nói con gái nhà người ta rất tệ mạt, lại còn bảo là “giai nhân”! Toàn là đặt chuyện, không căn cứ vào đâu cả. Cứ mở mồm ra là con nhà “hương thân”, bố không phải thượng thư tất là tể tướng. Hễ là tiểu thư thì nhất định được yêu quí như ngọc. Tiểu thư ấy tất là hạng thông văn chương, biết lễ nghĩa, vào bực giai nhân hiếm có. Rồi thấy đứa con trai nào xinh đẹp, không kể họ hàng, bạn bè, lại nghĩ ngay đến việc trăm năm của mình, quên cả bố mẹ, bỏ cả sách vở, ma chẳng ra ma, giặc chẳng ra giặc, như thế có giống bậc giai nhân một tí nào không? Dù có học giỏi đến đâu, mà làm những việc như thế, cũng không thể gọi là giai nhân được! Ví như một người con trai học hành rất giỏi mà đi làm giặc, thì phép vua có coi là tài tử mà tha tội cho không? Thế mới biết bọn làm sách chỉ tự mình bưng miệng mình.

Trong bầu không khí lễ giáo phong kiến ấy, khi mà Đại Ngọc đọc mấy cuốn Tây Sương Ký, Mẫu Đơn Đình thôi đã bị Bảo Thoa răn đe nghiêm khắc, thì việc cùng Bảo Ngọc công khai thách thức gia đình là không thể. Bảo Ngọc thì cũng đành thôi, chứ Đại Ngọc là người ăn nhờ ở đậu, sự tự ti và ý thức về địa vị của nàng không cho phép cô ta làm vậy. Vì thế cách phản kháng của Đại Ngọc là một sự đấu tranh bị động - nàng cố tình để bệnh tật tàn phá cơ thể đến chết, nhưng kể cả thế những bậc gia trưởng vẫn nhận ra hàm ý "không cam lòng" của nàng và trở nên lạnh nhạt với Đại Ngọc.

Lý do thứ hai nhưng quan trọng hơn, ấy là người Trung Quốc không nghĩ "chết là hết." Chúng ta giờ đây hay thầm nhủ sống ở đời chỉ có một lần, phải sống cho ra sống, phải đấu tranh vì tình yêu, vv. Nhưng đối với họ, không yêu nhau được kiếp này thì chờ đến kiếp sau. Thế nên mới có những câu chuyện về tái sinh duyên đầy rẫy trong cổ tích, thần thoại, văn học Trung Quốc. Vì tin vào kiếp sau nên họ không sợ chết, thậm chí còn sẵn sàng chết vì danh dự, vì tình yêu, vì báo đền ơn chúa... Cốt yếu sao là sống cho không thẹn với lòng. Nếu Đại Ngọc vì tình yêu cố tình vượt vòng lễ giáo, cùng Bảo Ngọc bất chấp tất cả thì tức là làm nhơ nhuốc danh dự của bậc tiểu thư. Ngoài ra chính Đại Ngọc cũng là đóa hoa tiên đầu thai để trả nợ tình cho Bảo Ngọc. Thế nên kiếp này mà không khổ đau thì việc đầu thai chỉ là công cốc.

 
21:59 Friday,10.2.2017 Đăng bởi:  Đặng Chín

+ Trong phim "Love Story" Oliver vì không đủ tiền để lo lắng cho vợ nên nói với Nàng "I am sorry." Jenny vừa khóc, vừa đáp "Don't.Love means never having to say you are sorry."

Trong bài thơ "Màu Tím Hoa Sim",tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe ngâm đến dòng,
"Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không
...xem tiếp

21:59 Friday,10.2.2017 Đăng bởi:  Đặng Chín

+ Trong phim "Love Story" Oliver vì không đủ tiền để lo lắng cho vợ nên nói với Nàng "I am sorry." Jenny vừa khóc, vừa đáp "Don't.Love means never having to say you are sorry."

Trong bài thơ "Màu Tím Hoa Sim",tôi đã không cầm được nước mắt khi nghe ngâm đến dòng,
"Em ơi!
Giây phút cuối
Không được nghe nhau nói
Không được nhìn nhau một lần"

... Và xa hơn nữa, Trọng Thủy đã gieo mình Khi Mỵ Châu không còn nữa.

+ Tình yêu nam, nữ(male and female) là động lực sống của muôn loài. Nó chưa bao giờ và có lẻ sẽ không bao giờ là "câu chuyện phù du".

 

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)

Ăn kem – xem show

Mr Thứ Hai – Chu Minh Vũ | Việt Nam Ngày Mới

Tìm kiếm

Tiêu đề
Nội dung
Tác giả