Đi & Ở

Phan Rang–Tháp Chàm: Bản sắc…
Lại vẫn là chuyện bản sắc 19. 12. 11 - 6:28 am

KTS Phó Đức Tùng - Ảnh: Nguyễn Quang Nội

Quang cảnh đặc trưng ở Phan Rang – lung tung, xộc xệch.

Phan Rang-Tháp Chàm, một đô thị xộc xệch như một khu tị nạn chạy dọc con đường quốc lộ bụi mù mịt. Cả một đô thị cũ chỉ có vườn hoa Yersin là đẹp nhất, vì có ba cây muồng mưa cổ thụ hàng trăm năm. Vườn hoa này nghe bảo do cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu tài trợ, nhưng ba cây muồng thì phải có từ trước rồi. Thành phố mới đầu tư một trục đường trung tâm là đường 16 tháng 04 to tướng, cắm thẳng vào dải đô thị hiện hữu như một cái đinh cắm vào giữa con giun. Giữa trục đường phình ra một quảng trường trống hoác, ốp hai bên bởi hai khu tượng đài xấu chưa từng thấy. Không hiểu sao mãi mà quốc hội không thông qua luật cấm làm tượng đài ở Việt Nam. Ở bất kỳ nơi trang trọng nào, chúng nó cũng ỉa ra một cục to tướng mà không thể đập đi được, lý do là v tượng đài. Hai bên đường, những cây sao đen, dầu rái non nớt run rẩy trong gió biển. Không biết ai xui thành phố trồng những cây này sát biển như vậy.

Công viên Yersin với 3 cây muồng mưa cổ thụ.

 

Quảng trường

 

Tượng đài ở quảng trường 16.04

 

Cái này cũng ở bên quảng trường 16.04, không biết là tượng đài hay là cái gì, thấy xấu quá nên không lại gần xem.

 

Công viên ven biển Phan Rang được thiết kế hình chữ S, chia ra thành các vùng như các tỉnh thành trong cả nước. Mỗi tỉnh sẽ tặng một vài cây đặc trưng của tỉnh mình để trồng ở đây. Một nhân viên sở Xây dựng than thở: có tỉnh gọi điện báo là có cây rồi nhưng không có tiền chở vào, Phan Rang phải tự đến mà lấy. Có tỉnh thì nhiệt tình chở đến tận nơi, nhưng một cái cây bé tí mà Phan Rang phải chiêu đãi nhậu nhẹt cho cả đoàn. Khổ nữa là công viên thì ở ngay bờ biển, mà các tỉnh thì tặng cây đặc trưng của tỉnh mình, như Đồng Tháp thì tặng cây đầm lầy, Yên Bái thì tặng cây vùng núi như trám đen v.v… Vậy là Phan Rang tha hồ mà chăm sóc, để chết thì ảnh hưởng đến tình hữu nghị, nhưng rốt cuộc thì chúng vẫn chết gần hết. Tôi an ủi các bạn: chẳng phải sai lầm của riêng Phan Rang đâu, ngay Hà Nội, người ta quy hoạch khu làng văn hóa các dân tộc Việt Nam ở Đồng Mô trên một vùng đồi đá ong, cũng có ý đồ tạo thành hình nước Việt, với mỗi vùng trồng cây đặc trưng của vùng đó. Ghê hơn nữa là họ không chỉ định trồng một cây đặc trưng, mà trồng những rừng sinh thái đặc trưng. Đất nước này lạ lắm, trên mảnh công viên nào cũng có ý đồ trồng cho đủ cây cối ba miền, ra cái điều đa dạng bản sắc, nhưng ngoài đời thì mọi bản sắc đều bị cố gắng cào bằng, miền ngược cũng như miền xuôi, dưới biển cũng như trên rừng.

Nghe tên Phan Rang, Tháp Chàm từ hồi bé, trong đầu tôi luôn hình dung một văn hóa Chăm Pa xa xôi, với những tháp chàm kỳ bí, vàng rực như những đóa sen lửa trong ánh hoàng hôn, với những đoàn phụ nữ chăm lầm lũi đội nước đi trên cồn cát sa mạc, những con bò trắng sừng thẳng, mặt hiền như những con bò thần ở Ấn Độ, Nepal, rồi gốm Chăm, mộc mạc mà đẹp như thời tiền sử.

Gần như không còn người Chăm nào ở trong thành phố. Trên sở Xây dựng, gần như không ai biết tới những làng Chăm. Có một nhân viên duy nhất trên sở là người Chăm, nhưng khi nghe chúng tôi hỏi về làng Chăm, chị nhìn chúng tôi như thể chúng tôi hỏi thăm về quái vật nào. Kiến thức của chị không ra ngoài cái tên Bàu Trúc. Tôi tới làng gốm Chăm nổi tiếng Bàu Trúc. Không còn một đồ gốm nào mang hơi hướng Chăm. Toàn là những đồ gốm trang trí, đắp điếm như ăn mày chín túi, rạch ngang dọc như đồ đồng nát, đã thế còn bóng lộn tân thời. Nghe đồn là mẫu mã do các nghệ sỹ tốt nghiệp mỹ thuật Sài Gòn truyền thụ và các khách xịn Sài gòn đặt hàng.

Gốm Bàu Trúc. (Ảnh lấy trên mạng).

Chúng tôi lại tìm đến trung tâm bảo tồn văn hóa Chăm, gặp ông Thọ, tương truyền là nghệ nhân gốm oách nhất người Chăm hiện còn sống. ông Thọ tiếp chúng tôi rất niềm nở tại nhà và cho biết ông là nghệ nhân Chăm duy nhất tốt nghiệp đại học mỹ thuật Sài Gòn. Ông xuất thân ở Bàu Trúc, nhưng giờ quy ẩn tại làng An Nhơn, vì thấy kinh hãi với những sự thương mại hóa gốm chăm tại Bàu Trúc mà ông từng là người tiên phong. Ông nói rất nhiều về cái tinh tế của gốm Chăm truyền thống, của trang phục, ẩm thực Chăm, những thứ đã từng góp phần vào một vương quốc Chăm Pa hùng mạnh. Tuy nhiên, trong nhà ông tuyệt không còn vết tích gì của Chăm Pa, không còn mẫu gốm cổ truyền, không còn thổ cẩm, không còn món ăn. Chỉ còn những sáng tạo mới bằng gốm và sơn dầu của ông, hoàn toàn theo phong cách tạo nguồn của một trường mỹ thuật Sài Gòn mà tôi có thể hình dung. Ông nói ông là người duy nhất sưu tầm các mẫu gốm Chăm cho trung tâm bảo tồn văn hóa Chăm, nhưng không có đồ cũ, mà là toàn đồ mới làm, theo mẫu mã ông tự vẽ. Bởi vì theo ông, người Chăm dùng vò gốm để đựng nước, đựng gạo và coi đó như một phần linh hồn và vận mệnh của mình. Họ không bao giờ lấy hết gạo ra khỏi hũ. Trước khi dùng đồ gốm, nhất là hũ gạo, họ đều phải làm lễ cẩn thận, thậm chí dán bùa. Vì vậy người Chăm dù nghèo cũng không bao giờ dám bán đồ gốm đang dùng.

Nhà nghệ nhân gốm Chăm – ông Thọ ở làng An Nhơn. Với một ít tranh và tượng của ông ở đằng sau.

Hôm sau, theo lời ông Thọ khuyên, chúng tôi lặn lội đến làng Bỉnh Nghĩa, là làng Chăm xa xôi hẻo lánh nhất, và còn giữ bản sắc nhất. Ở đây, không những không còn gốm Chăm, thổ cẩm, mà thậm chí người già còn khẳng định là người Chăm chưa từng biết làm đồ gốm và dệt thổ cẩm. Theo họ thì trước đây họ mua gốm của người Kinh từ Huế chuyển vào, nhưng bây giờ tân tiến, thay hết bằng đồ nhựa. Nhà cửa thì cũng tuềnh toàng, xanh đỏ chẳng ra bản sắc gì. Chỉ có những khuôn viên và cấu trúc làng là đặc biệt. Khuôn viên nào cũng tương đối rộng, gần như vuông. Tất cả các công trình, từ nhà chính, nhà phụ, chuồng trại đều quay quanh chu vi ba mặt, tạo thành sân ở trước. Đường làng do những ô vuông này chừa ra mà thành, nên có chỗ to, chỗ nhỏ linh hoạt chứ không phải là một đường thẳng như phố xá. Những chỗ mở rộng ra thường có người ngồi chơi, hoặc bán hàng nhỏ, như những quảng trường con. Trong làng và các sân nhà, gà vịt ngan ngỗng bò lợn đi lại tung tăng rất thân thiện. Gần như không ai nuôi chó, chẳng có tiếng chó sủa khi vào làng. Người Chăm không ăn thịt lợn, nhưng trong làng có mấy con lợn lai kinh tế to khổng lồ, nặng có tới hai tạ, đi lại lung tung như những con bê, không biết số phận chúng sau này thế nào.

Khuôn viên mỗi nhà đều có dạng hình vuông, nhà cửa sát vào mép, để lại sân rộng phía trước, hàng rào thường rất đơn sơ.

 

Lợn đi lang thang ở chợ Bỉnh Nghĩa.

Thi thoảng vẫn còn những con bò Chăm màu trắng cát, mặt hiền lành, sừng thẳng. Nhưng đa số bò đã là loại bò vàng của miền Bắc đưa vào. Với mưu đồ được thấy lại những con bò Chăm trên vùng đất xương rồng, tôi bàn với cán bộ sở: Phan Rang nổi tiếng về cừu bò, mà chẳng thấy có bán đặc sản cừu bò nhỉ. Ông này bảo đúng rồi, chúng tôi chỉ xuất đi cả nước chứ không biết chế biến. Tôi bàn là cần phải tổ chức học tập và PR về thịt bò và các món cao cấp từ thịt bò. Nhưng mà trước hết cần gây dựng câu truyện về một loại bò mà chỉ Phan Rang mới có – con bò của người Chăm. Ai cũng thấy trông nó khác, còn thịt của nó ngon thế nào thì du khách làm sao biết được. Nếu làm được như vậy, con bò trắng có cơ hội lại trở thành một phần của cảnh quan văn hóa Phan Rang, chỉ có điều từ ấn tượng của một thần vật trong Ấn Độ giáo, nó sẽ là một đặc sản chạy bộ. Nhưng mà việc xẻ thịt thần thánh để bán làm du lịch đúng là lẽ thường bây giờ.

Bò lợn và gia cầm sống chung trong khuôn viên, không thấy có chuồng trại riêng.

Về kỳ quan thiên nhiên, Phan Rang nổi tiếng nhất là khu cát bay phía nam, với những cồn cát vàng rực, thuần khiết như cảnh sa mạc Sahara. Chúng tôi đến đó để tìm lại cảnh người Chăm đội lu nước bằng gốm, một hình ảnh từng in vào đầu tôi như một biểu tượng. Suốt dọc đường, xe đi giữa hai hàng trại nuôi tôm giống, tăm tối lụp xụp như những khu ổ chuột dành cho người mù. Đường đi sát bờ biển mà chẳng nhìn thấy biển đâu. Tới nơi mới thật vỡ mộng. Không có làng Chăm nào, chỉ có mấy làng chài nghèo xơ xác. Ngay tại khu cát bay, người ta xẻ một con đường to tướng sâu giữa cồn cát để làm đường ven biển, như một nhát chém giữa mặt. Ngoài ra, người ta còn đang khoan khảo sát để làm khu nhà máy điện hạt nhân và   khu phong điện lớn nhất nước xung quanh vùng cồn cát này. Không còn ấn tượng của những đường cong nữ tính, trinh nguyên mà ấn tượng chung là một cơ thể lở loét. Hỏi tại sao không bám đường theo địa hình, không làm đường men theo chân núi mà lại xẻ sâu vào giữa cồn cát bay như vậy? Giám đốc sở Xây dựng trả lời: thứ nhất là lúc vạch hướng tuyến chỉ dựa vào ảnh google, mà xong thì cũng không ai đi xem thực địa, hôm nay tôi cũng là lần đầu tiên đến đây thì thấy thế này, nhưng đó là lỗi bên giao thông. Với lại xẻ sâu vào cát thì vừa đỡ dốc, vừa tốn kém, ngoài chi phí ban đầu, cát bay sẽ thường xuyên lấp kín con đường, lại phải đào bới ra, như vậy sẽ có kinh phí lâu dài. Ông hỏi tôi xem phương án làm thế nào để biến đây thành một trung tâm du lịch hấp dẫn, tỉnh thì định đầu tư một casino trên đỉnh cồn cát. Tôi bảo điều quan trọng nhất là phải bịt mắt được du khách, dắt tới giữa cồn cát mới giật băng ra để họ ngắm, rồi lại bịt mắt dắt về.

Phía bắc Phan Rang có kỳ quan Núi Chúa, một khu bảo tồn thiên nhiên rất đẹp, với những rừng cây thấp, cây nào cũng kỳ quái như bonsai vì sống trong điều kiện đất cằn, nắng gắt và gió cực mạnh. Cảnh quan một bên là rừng núi xanh tươi, một bên là biển xanh ngăn ngắt, thật là hùng vĩ. Tỉnh cũng đang muốn quy hoạch khu này thành trung tâm du lịch. Tôi đang hào hứng đắm chìm trong những ý tưởng trên một vùng đất đai rộng rãi, lưng tựa núi, mặt hướng biển, lại đã có một làng chài nhỏ nên thơ. Nhưng mà giám đốc sở Xây dựng bảo khu này cũng đã quy hoạch thành nhà máy điện hạt nhân. Khu cồn cát thuê Nga, khu này thuê Nhật. Thằng thì nổ nhà máy đầu tiên, thằng thì nổ cuối cùng. Ông giám đốc sở than là Phan Rang đâu có muốn làm điện hạt nhân, đây là quyết định từ trung ương, dựa trên rất nhiều tiêu chí xét duyệt địa điểm. Phan Rang chỉ có thể quyết định về du lịch thôi. Tôi có sáng kiến vậy thì định hướng du lịch phóng xạ, biết đâu trong khu rừng lùn này lại nảy sinh con kỳ nhông to bằng con cá sấu.

Núi Chúa (Ảnh lấy từ phuongnguyen.info)

Điểm cuối của hành trình, cũng là trọng điểm của khu du lịch, là thôn Vĩnh Hy. Sát biển là một làng chài lâu đời, nằm bên một vịnh biển nhỏ rất thơ mộng. Đây là vịnh biển duy nhất trong suốt dải biển Phan Rang, vì thế từ lâu đời vẫn là nơi đậu tàu của ngư dân. Khắp vịnh đầy tàu thuyền. Làng chài này là quê hương của bí thư hay chủ tịch tỉnh đương nhiệm. Thấy bảo đây là một trong những điểm du lịch có tiếng của Phan Rang, rất đông khách. Thực ra làng chài rất nghèo, nhà cửa chật chội, lụp xụp, tuy có được một con đường bê tông kè ven biển, nhưng không có dịch vụ gì. Nhìn mãi mới phát hiện một số tàu đáy kính đậu xen lẫn tàu đánh cá trong vịnh. Hóa ra đây là một rạn san hô. Du khách có thể ngồi trên tàu đáy kính để quan sát san hô, nhưng không lặn được vì cảng biển quá bẩn.

Vịnh Vĩnh Hy (ảnh Ngọc Viên, lấy từ internet)

Phía trên núi là một làng người Raclay, gọi là bản Cầu Gãy mà tỉnh định làm thành một điểm nhấn về du lịch văn hóa cộng đồng. Sở Văn hóa cho làm một đoạn đường nhựa, to đúng bằng đường quốc lộ ven biển, phi thẳng lên núi, tới đúng đầu cầu treo vào bản. Đoạn đường này dài khoảng 100m, xẻ núi lấp mẹ nó gần hết con suối đẹp nhất vùng. Không nhiểu người ta định phi xe ô tô lên cái 100m này để làm gì.

Bản Cầu Gãy này gồm toàn nhà tình thương của dự án làm cho dân, mỗi nhà khoảng 15 m2, sàn xi măng, tường sơn xanh đỏ, mái fibro xi măng. Trong nhà trống trơn không có một đồ đạc nào. Người dân ngồi thều lều trong các nhà, chẳng thấy làm gì. Một nhân viên sở nói dự án này thành công quá, gom được hết dân rải rác trong vùng rừng xung quanh tập trung lại ở đây, không ai phản kháng. Hỏi thế họ sống bằng gì? Đáp rằng họ vẫn lang thang trên rừng núi, vì không có ruộng nương, nhưng mà mình xây nhà cố định cho họ, lại đặt kiểm lâm giám sát nên họ không thể lấy gỗ, đốt than, săn bắn thú rừng. Có chăng chỉ hái được lá lẩu về làm rau và lén lút trồng ngô dưới tán rừng thôi. Tôi hỏi vậy các anh định cho du khách xem cái gì? Đáp là tỉnh có dự định cho họ khôi phục nghề truyền thống đan mây tre, dệt thổ cẩm, rồi dạy họ múa hát cho du khách xem. Tôi tò mò vào hỏi xem những đồ mây tre, thổ cẩm truyền thống của họ là gì, vì không thấy ai dùng đồ này. Người già nói là bản này chưa từng biết đan và dệt, toàn mua đồ từ ngoài, nhưng bây giờ không có tiền để mua nữa rồi. Trong bản có hai người già từng học được cách đan gùi bằng mây tre của người Thượng, nhưng yếu quá rồi, với lại cũng không được phép khai thác mây tre trên rừng bảo tồn. Tôi bảo: thế này thì khó làm du lịch văn hóa cộng đồng nhỉ, địa thế bản này vô cùng trọng yếu về cảnh quan, là nơi đẹp nhất vùng, hay là lại thả họ về rừng đi, lấy chỗ này mà làm dự án du lịch. Cán bộ nghe có vẻ bùi tai, không biết thế nào.

Cuối cùng, suy đi tính lại, di sản duy nhất của người Chăm vẫn còn hiện hữu ở các tỉnh nam trung bộ có lẽ là món bánh căn, bánh xèo. Những bánh này được nướng trên những bếp than bằng gốm, bằng những khay gốm xinh xinh, có nắp cũng bằng gốm. Tạo hình của bộ đồ nướng này thật là hoàn hảo, lại rất ra tinh thần Chăm Pa. Chúng gợi nhớ tới những núm vú tròn xinh xung quanh bệ thờ linga ở các tháp Chàm. Thao tác nướng bánh cũng thật thanh thoát, từ tốn. Không thể làm nhanh được, vì bánh phải đủ giờ mới chín, mà tất cả bộ đồ đều bằng gốm mỏng mảnh, dễ vỡ. Miếng bánh nóng mới lấy ra trong thì mềm xốp, ngoài thì giòn tan, đượm hương của lửa, của gốm mà lại không mỡ màng. Cách đây vài năm, ở mọi ngả đường các tỉnh nam trung bộ đều có bán món này, ăn sáng và tối. Nhưng bây giờ cả một thành phố chỉ còn vài hàng, bán rất rẻ. Đa số hàng bán bánh xèo đã thay cái nắp gốm bằng nắp tôn cho dễ quăng quật, trông kém thi vị hẳn. Trong Vũng Tàu, món bánh căn cải biên thành bánh khọt, vì được rán trên một chảo gang lớn có nhiều lỗ, khi đổ bột vào mỡ nóng nghe kêu khọt khọt. Nghe đồn sáng kiến này là do một nhạc sỹ nào đó, hình như ông Thanh Tùng, bày cho họ để có thể sản xuất nhanh hơn, nhiều hơn.

Làm bánh căn. (Ảnh lấy trên mạng).

Do rán mỡ nên bánh khọt ngấy, không thanh như bánh căn, vì thế khi ăn phải kèm theo một rổ rau sống các loại, gần giống như ta ăn bánh tôm ngoài bắc. Theo như ông Thọ thì đa số người Chăm bây giờ cũng học theo cách đó, làm bánh xèo, bánh căn trên chảo mỡ, ăn không giống, nhưng mà nhanh. Có lẽ chỉ vài năm nữa, sẽ khó mà còn ai bán bánh căn đúng kiểu ở các tỉnh nam trung bộ nữa. Nghĩ lại đúng là mọi món ngon truyền thống đều cầu kỳ, từ cái nguyên liệu, tới sự chuẩn bị, cho tới cái không gian, thời điểm ăn uống. Những người như Vũ Bằng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã sớm nhìn thấy sự suy thoái và kịp ghi lại trong sách vở nhưng cũng không cứu vãn được tình thế. Ngày nay người ta đều cố gắng giảm đi 3 phần chất lượng để tăng được 7 phần số lượng, chẳng còn cái gì đúng, tốt nữa cả. Trong khi đó nhìn sang Trung Quốc. Có những món ăn truyền thống dân dã vô cùng cầu kỳ mà lại rẻ tiền như bánh bao tiểu long Thượng Hải, mỳ kéo tại chỗ của người Hồi. Ngày nay, mặc dù lượng khách ăn nhiều hơn, giá vẫn cứ rẻ mà người ta vẫn làm đúng quy cách như xưa, thậm chí ngày một cải tiến cho ngon hơn, hoàn hảo hơn. Ở Thượng Hải, du khách xếp hàng chờ cả mấy tiếng để mua bánh bao tiểu long. Nhà hàng thuê hàng trăm thợ làm, đều đứng nặn tay từng viên, hấp vừa chín là bán ngay. Vì phải biểu diễn cho du khách xem, nên thợ nào cũng phải điêu luyện, lành nghề, tay làm thoăn thoắt, trăm viên như nhau. Nếu là Việt Nam, chắc chắn đã có sáng kiến thuê nông dân đâu đó làm hàng loạt rồi chỉ việc đẩy vào lò vi sóng cho nhanh.

Điều quan trọng là cuối cùng, chúng tôi cũng tìm mua được một bộ làm bánh căn cũ của một người bỏ nghề bán bánh. Ngoài chợ cũng còn bán đồ mới, nhưng chất lượng ngày càng tồi, đổ bánh là dính, và rất dễ vỡ. Phải rất nhiều khay mới chọn được vài cái tốt. Vì vậy phải mua những bộ đã dùng lâu, khi đó cả độ chắc lẫn độ mịn của gốm mới được đảm bảo.

Bánh căn. (Ảnh lấy trên mạng).

Sau hai ngày đi tìm hiểu văn hóa Chăm, tôi hỏi đứa bé đi cùng ấn tượng mạnh nhất về văn hóa Chăm là gì. Nó bảo: Tất cả mọi linga đều không có lông, như vậy không phải chim nào cũng đáng được tôn thờ, mà chỉ có chim trẻ con thôi.

 

 

*

Cùng một tác giả:

- Phan Rang–Tháp Chàm: Bản sắc… Lại vẫn là chuyện bản sắc
- Buôn Ma Thuột – chiếc Kpan của người Êđê
- Trăng rằm đầu hạ
- Như một con ong, tôi đi tìm mật bạc hà
- Muốn giản thì phải tinh, muốn tinh thì phải cầu kỳ. Ta thì không tinh…
- Đi tìm cái khác biệt để đạt được cái hòa đồng
- Tam quan, kiêng kị, và nhà của người hay nhà của ô tô
- Nói qua chút xíu về phần khí, phần âm trong phong thủy
- Có nhiều thứ rất nên học hỏi từ công trình của Võ Trọng Nghĩa
- Nhà 32m vuông: Một vài đề xuất với Lê Phương
- Góp ý cho Art C, căn hộ 79m
- Với các bạn đã xem “Cuộc đời của Pi”, về câu cuối
- Dầu olive – càng khắc nghiệt càng ngon
- Hãy để tranh là tranh, thịt là thịt, trong từ thiện
- Tôi không thấy tính thiền ở đây, tính vô ngã cũng vậy…
- Bàn về gái đẹp
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam...- Bài 5: Đường đi không có gì là khó...
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam... - Bài 4: Rẽ một chút sang Kinh Dịch nhé
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam...- Bài 3: Làm nghệ sĩ là làm tấm gương trong
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam... - Bài 2: Lớn lên để thành quân tử phương Đôn
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam...- Bài 1: Quan điểm ta như đứa trẻ sơ sinh
- Nhân bình ảnh Skoglund, bàn về Surrealism
- Giống vỏ nhưng không giống ruột: Mối liên hệ giữa Cezanne, Gauguin và Van Gogh với trường phái Biểu
- Bàn về đồng tính: 6 biện pháp để giảm bớt kỳ thị
- Chỉ vạch ra cái xấu, cái ác thì vẫn chỉ là phóng sự
- Nhân bình tranh của Lee Jin Ju: Nghệ thuật là để xin (được chia sẻ)? Hay để cho (giải pháp)?
- Nếu không có “essence”, Pollock hơn hải cẩu Tuần Châu ở chỗ nào?
- Bạn chọn lối nào: Không còn hình nữa là trừu tượng? Chắt được tinh chất là trừu tượng?
- Ai là cụ tổ của hội họa trừu tượng? (Cập nhật 2 và kết thúc?)
- Bài 1: Trong hang động của Platon
- Bài 2: Khái niệm “đẹp” của Platon
- Bài 3 – Các khái niệm quan trọng của Platon: Idea, Form và Illusion
- Bài 4: Theo Platon, trừu tượng là gì?
- Khi Phật không giảng nữa, và đèn ta tối thì sao?
- Lời thầy dạy có khi cũng thiếu logic
- Dùng thuyết nhân chủng học nào cho việc giãn dân phố cổ?
- Nhân chuyện cây sanh Hải Hậu, nghĩ về sự quái dị
- Chặt cây ở Hà Nội: cứ để yên, đừng có điên mà bắt chước ngày ấy trồng cây ấy
- Nhân xem phim La Zona, bàn về gated community
- Ở Philadelphia, ngày 7.4. 2015
- Đi dọc một đại lộ, nghĩ về một tầm nhìn
- Đến bảo tàng nghệ thuật, nghĩ tới hai chữ “thiên tài”
- Tranh tường ở đâu cũng thế: càng có tổ chức càng đờ đẫn?
- Não, cơ thể, và điện tử: hay như nghệ thuật tại Viện Franklin
- Boston: Trong lâu đài và giữa đồng hoa, nghĩ về tự do
- Phố đi bộ Hà Nội: quá hay và bất ngờ
- Dòng sông và đô thị
- Muốn biết bản sắc một dân tộc, hãy nhìn vào con gà của họ (bài 1): gà Nhật, gà Tàu, gà Indo
- Con phượng hoàng máy
- Nha Trang tháng 12. 2011: Chuyện ăn mực
- Tranh hang động thời Đồ Đá Cũ: đẹp nhờ đâu?
- Ngắm Venus Figurines, nghĩ về thời hoàng kim “vú to mông nở”
- Về nhà, nhà tắm và cửa sổ
- Xem tranh Nguyễn Đình Hoàng Việt: quả là không uổng công đi
- Cánh mật đìu hiu

Ý kiến - Thảo luận

14:14 Wednesday,5.4.2017 Đăng bởi:  Hoang Huong
Tôi rất thích bài này
...xem tiếp
14:14 Wednesday,5.4.2017 Đăng bởi:  Hoang Huong
Tôi rất thích bài này 
7:17 Monday,9.11.2015 Đăng bởi:  phó đức tùng
bác Ja Alin
SOI là trang mở, bác muốn đăng gì thì đều rất hoan nghênh. Đặc biệt nếu bác có thông tin gì về văn hóa Chăm hiện nay ở Phan Rang thì rất quý, mình chỉ đi khảo sát qua qua, cũng chưa tìm được những chỗ thật độc đáo.
...xem tiếp
7:17 Monday,9.11.2015 Đăng bởi:  phó đức tùng
bác Ja Alin
SOI là trang mở, bác muốn đăng gì thì đều rất hoan nghênh. Đặc biệt nếu bác có thông tin gì về văn hóa Chăm hiện nay ở Phan Rang thì rất quý, mình chỉ đi khảo sát qua qua, cũng chưa tìm được những chỗ thật độc đáo. 

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)

Marina Abramovic - Tuyên ngôn đời nghệ sĩ

Marina Abramovic – Khôi Nguyên dịch

Tìm kiếm

Tiêu đề
Nội dung
Tác giả