Thiết kế

Lễ phục Việt Nam, bài 1: Âu phục? 15. 10. 14 - 4:39 pm

Trịnh Bách

Hiện nay chúng ta đang nỗ lực chọn ra một mẫu lễ phục, nhất là cho nam giới, để xử dụng một cách thống nhất cho các lễ lạc quốc gia và ngoại giao. Các ý kiến trải rộng từ các trang phục truyền thống dân tộc cho đến trang phục Tây phương đang thông dụng. Cả hai dòng này đều nên được cân nhắc, tìm hiểu kỹ để khỏi áy náy về sau.

Có ý kiến cho rằng nên dùng Âu phục, tức là bộ đồ vét (veston) Tây phương, với vài phụ kiện như giải vải choàng chéo qua vai (tức là giải sash hay riband), làm lễ phục ngoại giao và yến tiệc cho nước ta. Trước khi xem xét về lễ phục truyền thống Việt Nam, hãy tìm hiểu thêm về lịch sử, chức năng chính thức, cũng như nguyên tắc về cách xử dụng các loại lễ phục Tây phương phổ thông trên thế giới hiện nay.

Những kiểu cách ra đời…

Năm 1666, vua nước Anh là Charles II, phỏng theo cách ăn mặc của triều đình vua Louis XIV đương thời bên Pháp, ra quy định chính thức về triều phục cho các quan chức trong triều đình Anh Quốc. Lễ phục này đại khái gồm có một áo khoác dài với tay chẽn gọi là frock-coat (hay gọi tắt là frock). Bên trong áo frock là áo mặc trong (petticoat, tiền thân của áo gi-lê). Trong nữa là áo lót vải trắng (tiền thân của áo sơ-mi). Rồi một cái cra-vát trắng quấn cổ (tiền thân của cả nơ lẫn cra-vát ngày nay), một quần lửng bó chân (breeches), tóc giả đội đầu, mũ, tất bó chân và giầy da đen. Đây là quy định thành văn đầu tiên của lễ phục triều đình bên châu Âu. Triều đình các nước châu Âu khác sau đó đều theo quy định này.

Vua Charles II mặc triều phục

Từ các thế kỷ 9, 10, trong các dịp trang trọng, người Âu châu cả nam lẫn nữ đều mặc loại trang phục gọi là Frock đó. Người Pháp, Ý, Tây Ban Nha gọi áo Frock là Frac, trong khi người Đức, Áo gọi là Frack. Thật ra frock chỉ có nghĩa đơn giản là áo dài với tay bó chẽn, giống áo dài của nước ta. Đến thế kỷ thứ 12, người ta mặc ra ngoài cái frock một loại áo dài khác may bằng vải dầy hơn, mở phía trước và với tay rộng hơn. Áo này gọi là frock coat, có nghĩa là áo khoác. Cho đến thời vua Charles II nó được cắt ngắn bớt đến trên dưới đầu gối, được may với ý định rõ ràng là trang phục nghi lễ, và vẫn được gọi là frock-coat, hay đơn giản hơn là coat (áo khoác ngoài).

Áo frock nam và nữ thời Phục Hưng (phục dựng)

Trong giai đoạn Cách mạng Pháp và chiến tranh Napoleon cuối thế kỷ 18, áo frock-coat được cắt ngắn phần trước cho tiện việc cưỡi ngựa và xử dụng kiếm đeo bên hông. Áo này được gọi là áo cắt vạt (cutaway frock-coat) hay áo kỵ mã (riding coat, tiếng Pháp là redingote). Đây là tiền thân của áo đuôi tôm (áo nơ trắng, hay tailcoat) sau này.

Đến cuối triều vua George III (1760-1820) của nước Anh, nhà thiết kế thời trang lừng danh ở nước này là George Brummel (1778-1840) đã đổi mẫu triều phục bằng cách thay quần lửng bằng quần dài. Đến giai đoạn Nhiếp Chính (Regency) của Thái tử George IV (1811-1820), ông Brummel lại đổi áo khoác (coat) của lễ phục triều đình thành mầu đen hoặc lam đậm cho các đại lễ. Cùng lúc đó ông cũng thiết kế áo sơ-mi lót có cổ bẻ và cổ tay bó như chúng ta vẫn mặc hiện nay. Và cra-vát bắt đầu được ông Brummel cho thắt nút.

Áo lót mặc bên trong được ông Brunnel cho cắt ngắn ngang bụng, gọi là waistcoat (tức là gi-lê), và may bằng vải mầu trắng hay đen để làm nổi cái giải đeo bội tinh gọi là sash hay cordon choàng chéo từ một bên vai ngoài áo gi-lê và bên trong áo khoác ngoài.

Georges “Beau” Brummel (1805)

 

Các mẫu lễ phục của Georges Brummel đầu thế kỷ 19. Từ trái: Áo sơ-mi cổ bẻ và cổ tay bó; áo đuôi tôm khuy đôi với nịt bụng cummerbund; áo đuôi tôm khuy đơn với gi-lê; quần dài

Cùng thời Nhiếp Chính này người ta lại cũng bắt đầu đơn giản hóa các vòng dây đeo kiếm vấn quanh bụng thành một giải băng rộng độ 15 cm với nhiều nếp gấp ngang, dấu vết của các vòng vấn bụng ngày xưa. Đây là sự hình thành của cái nịt bụng gọi là cummerbund, được mặc với trang phục nơ-đen, hay Tuxedo, sau này. Nịt cummerbund được đeo với phần gấp hướng lên phía trên.

Hoàng tế Albert (1819-1861), chồng Nữ hoàng Victoria (1837-1901) của nước Anh, cũng là người đặt dấu ấn lớn cho trang phục nam giới châu Âu. Nguyên tắc đồ bộ, nghĩa là quần áo may bằng cùng loại vải và cùng mầu, được bắt đầu từ ý kiến của Hoàng tế. Lễ phục cho quốc lễ, đại lễ trong giai đoạn này là áo đuôi tôm cutaway frock-coat mầu đen cài chéo vạt với hai hàng khuy. Áo lễ cho những dịp kém quan trọng cũng cắt như thế, nhưng có vạt trước cài thẳng dọc trước bụng với khuy đơn (nhưng thường để mở không cài khuy). Để tiện cho những buổi cưỡi ngựa ban ngày, Hoàng tế cho cắt vạt trước của áo cutaway-coat khuy đơn từ trước bụng vát chéo vào đuôi tôm phía sau. Áo này gọi là morning-coat (áo-ban-ngày), hay được gọi là trang phục Hoàng-tế Albert (Prince-Albert coat). Morning-coat được mặc phổ biến và có cùng chức năng đa dụng như kiểu bộ đồ veston hiện nay. Các hoàng gia châu Âu như thông lệ, vẫn đều tiếp tục phỏng theo cách ăn mặc của hoàng gia Anh.

Nhưng các đột phá quan trọng về trang phục phái nam đều xẩy ra dưới thời vua Edward VII (1901-1910), người kế vị nữ hoàng Victoria. Các Âu phục chúng ta mặc bây giờ đều được hình thành từ triều đại của vị vua này. Đại lễ phục nơ trắng (white-tie, tức là áo đuôi tôm) được hoàn thiện vào thời kỳ đó. Đại lễ phục nơ trắng từ giai đoạn này có vạt trước mở với khuy đơn không cài để khoe giải giây sash của bội tinh bên trong.

Lễ phục nơ trắng gồm áo đuôi tôm (luôn luôn mầu đen) bên ngoài với cổ áo được may bằng sa tanh đen cùng loại vải với nẹp dọc hai bên ống quần, nơ đeo cổ bằng sa tanh mầu trắng, một áo gi-lê mầu trắng bên trong, áo sơ mi với cổ bẻ hình tam giác (wing tip), quần dài cùng loại vải với áo đuôi tôm, giây đeo quần (bretels), giầy da đen bóng nước (patented leather) và tất đen trong suốt (hose). Mặc lễ phục nơ trắng không đeo nịt bụng cummerbund.

Ngoài ra, năm 1886, Edward VII, khi đó còn là hoàng thái tử, có lần tổ chức dạ tiệc khoản đãi bạn thân là triệu phú cà phê người Mỹ tên James Potter. Vì đây không phải là quốc yến, nhưng lại có tầm quan trọng, cho nên James Potter không biết phải ăn mặc thế nào. Hoàng thái tử bèn cho thợ may riêng là Henry Poole ở London thiết kế một bộ trang phục đặc biệt cho khách quý, lấy mẫu từ đại lễ phục nơ trắng, nhưng cắt ngắn đi. Khi James Potter về nhà ở Tuxedo Park, bang New York, bộ lễ phục kiểu mới này đã chinh phục toàn thể giới thượng lưu ở Mỹ. Từ đó nó được gọi là bộ Tuxedo và trở thành phổ thông trên toàn cầu. Về sau này Tuxedo được mặc với nơ đen, và gọi là black-tie, hay dinner jacket, cho các dịp lễ kém quan trọng.

James Potter (chính giữa, hàng bên trong) và bạn bè giới thiệu trang phục Tuxedo (khi đó vẫn đeo nơ trắng) ở New York (1886)

Lễ phục nơ đen (Tuxedo) gồm áo vét với cổ áo được may bằng sa tanh cùng loại vải với nẹp dọc hai bên ống quần, nơ đeo cổ bằng sa tanh đen, không có gi-lê nhưng có yếm che ngực độn cứng (hiện nay hay được thay bằng các nếp xếp nhỏ dọc trước ngực áo), áo sơ mi cổ tam giác bẻ, Quần cùng loại vải với áo vét, dây nịt bụng cummerbund, giây đeo quần, giầy da bóng nước và tất đen trong suốt.

Áo sơ mi của cả lễ phục nơ trắng lẫn nơ đen đều không có khuy cài, mà được gắn bằng các hột khuy rời gọi là studs, cùng bộ với các hột măng-xét cài ở tay áo. Khi đã đeo nơ trên cổ áo sơ mi thì không bao giờ đeo thắt lưng. Thay vào đó người ta dùng giây đeo quần choàng từ sau lưng qua vai, gọi là bretels.

Các phụ kiện của lễ phục nơ trắng và nơ đen:

 

Dải nịt bụng (cummerbund)

 

Dây đeo quần (bretels)

 

Vài loại giầy patented leather

 

Bộ nút studs cho các lễ phục nơ trắng và đen

 

Cổ wingtip

 

Tất trong suốt (hose)

Và việc quan trọng nữa trong thời vua Edward VII là các loại áo morning-coat bắt đầu được cắt ngắn ngang mông cho gọn để mặc trong các dịp xem tranh tài thể thao hay đi chơi biển, và gọi là lounge-suit (đồ bộ thư giãn để mặc ở các quán bar hay câu lạc bộ). Lounge-suit đậm mầu dần dần cũng được mặc trong các buổi hội nghị, hội thảo, và được gọi là business-suit (đồ bộ công tác). Khi ấy trong các cuộc hội nghị, giới đứng tuổi vẫn mặc morning-coat, trong khi giới trẻ cấp tiến hơn bắt đầu mặc business-suit.

Bộ business-suit khi mặc đầy đủ với áo gi-lê bên trong thì gọi là complet (com-lê, tức là đầy đủ), hay suits. Sau này để đơn giản hóa và thoải mái hơn trong mùa nực, người ta bỏ gi-lê đi và gọi là veston (tức bộ đồ vét). Âu phục, tức bộ đồ vét phổ thông ở nước ta hiện nay, đã ra đời như thế.

Từ trái sang: Lễ phục nơ đen (Tuxedo), lễ phục nơ trắng (tailcoat) và bộ com-lê (complet)

 

Giải thích sự hình thành của Tuxedo (1887)

Mặc lúc nào, mặc cái gì?

Ngày nay, theo như thể lệ của hầu như tất cả các nước mặc Âu phục trên thế giới, đại lễ phục nơ trắng (white-tie), tức áo đuôi tôm, được mặc trong những dịp lễ trong đại như quốc lễ, quốc yến, v.v., nhất là ở các đại lễ buổi tối, sau 18 giờ. Nếu các quốc yến khai mạc từ sớm hơn trong buổi chiều thì người ta vẫn có thể mặc lễ phục này.

Trong những dịp lễ kém quan trọng hơn quốc lễ, quốc yến như tiệc cưới, yến tiệc cơ quan, tang lễ, người ta mặc lễ phục nơ đen (black-tie), tức là Tuxedo, hay bây giờ còn được gọi là dinner jacket. Riêng ở Mỹ, nếu dự tiệc quan trọng ở các hiệp hội hay câu lạc bộ trong mùa hè với khí hậu nóng bức, thì áo vét đen của bộ black-tie có thể được thay bằng áo vét trắng may cùng kiểu. Nhưng các lề lối về phụ kiện như cổ áo sơ-mi may rời (wing-tip), nơ, nịt bụng cummerbund, khuy áo rời (studs), tất đen trong suốt (hose), và giầy da đen bóng nước (patented-leather)… của black-tie vẫn phải được tuân thủ.

Các nguyên thủ quốc gia mặc business-suit và morning-coat ở hội nghị Versailles (1919)

Thông dụng hơn nữa là Âu phục hay đồ bộ veston (business-suit hay lounge-suit). Loại trang phục này vẫn được xử dụng đúng như tên của nó đã ấn định, tức là ở các buổi làm việc, hội họp công việc, hay khi thư giãn ở các quán Bar, câu lạc bộ.

Đám cưới người Việt bên Mỹ, với chú rể và phù rể mặc lễ phục nơ đen (Tuxedo)

Đeo dải chéo hay không?

Nguyên tắc về dải đeo chéo vai (sash hay còn gọi là ribbon hay riband) với lễ phục trong nghi lễ cũng được các nước quy định nghiêm túc. Nguyên ủy sash là dải vải dài quấn choàng chéo qua vai rồi quấn chặt vòng nhiều vòng quanh bụng để đeo kiếm. Về sau, khi các bội tinh (order hay ordre) được thành lập thì phần gốc của bội tinh được đeo ở phần ngang hông của dải sash, phía trên kiếm. Vua Charles I (1600-1649) của nước Anh là người đầu tiên tách rời dải sash ra khỏi các vòng dây đeo kiếm, và biến dải sash thành một phần của bội tinh để trang trí trên triều phục.

Vua Charles đệ Nhất của nước Anh với dải sash đeo độc lập với nịt bụng

Bội tinh lúc đầu được triều đình Âu châu thời Trung cổ tạo ra để thưởng công cho các hiệp sỹ của mình. Nhưng về sau này bội tinh được trao cho những người có công với đất nước. Dọc theo lịch sử, mỗi nước tạo ra nhiều bội tinh khác để phong thưởng cho các loại công trạng với đẳng cấp khác nhau. Theo thông lệ thì khi dự quốc lễ hay quốc yến ở nước nào, nếu đã được ban tặng bội tinh của nước đó thì khi dự lễ phải đeo. 

Vua, Hoàng hậu Thái Lan cùng Tổng thống Phillipines và phu nhân, với các bội tinh quốc gia và giải sash

Bội tinh đầu tiên trên thế giới là Bội tinh Ga-tơ (Order of the Garter) được vua Edward III (1327-1377) nước Anh lập ra ngày 23 tháng 4 năm 1344 để phong thưởng cho các hiệp sỹ phò tá mình trong chiến tranh với Pháp. Quy định về bội tinh này được hoàn chỉnh năm 1448.

Ngày 6 tháng 11 năm 1351, vua Jean II (1350-1364) nước Pháp cũng phỏng theo triều đình Anh quốc đặt ra Bội tinh Bắc đẩu (Ordre de L’Etoile) của Pháp để đối chọi lại. Các Hoàng gia Âu châu sau đó cũng lập ra các bội tinh của mình. Nước Á châu đầu tiên lập ra bội tinh là Nhật Bản thời Minh Trị (1868-1912), với Bội tinh Mặt trời mọc được ban hành năm 1875 có dải sash mầu trắng viền đỏ. Sau đó là Trung Hoa và các nước khác như Thái Lan, Mã Lai, hay các nước Đông Dương. Đại Nam Long tinh đầu tiên của Việt Nam được Vua Đồng Khánh ban bố ngày 14 tháng 3 năm 1886, với giải sash mầu xanh nõn chuối viền da cam. Nhiều nước không có hoàng gia, như Phillipines, Indonesia, các nước Phi châu và các nước trung, nam Mỹ trong thế kỷ 20 cũng tạo bội tinh để tặng, thưởng trong việc công cán và bang giao. Bội tinh cao quý nhất của Liên bang Xô-viết là Bội tinh Lenin được thiết lập ngày 06 tháng 4, 1930 với dải ribbon đỏ (về sau được thay bằng dải đeo huy chương đỏ viền kép mầu vàng).

 

Đại Nam Long Tinh triều Nguyễn Việt Nam với giải sash

 

Bội tinh Lenin

Lúc đầu các dải sash đều đơn sắc, thường là xanh trời, đen hay đỏ. Chiều rộng trung bình là 10 cm, và dài khoảng trên dưới 150 cm. Dải sash thường được làm bằng vải taffeta tơ tầm dầy sợi, dệt nổi vân, sản xuất ở Bologne, nước Ý. Giải sash được đeo vào trong lễ phục, ngoài áo gi-lê; hay đeo ra ngoài võ phục kín cổ. Nếu mặc áo frock-coat dài cài kín theo lối cổ đại thì sash được đeo chéo vai ra ngoài áo. Không được đeo sash đè trực tiếp lên các chi tiết trang trí khác của trang phục như cra-vát hay huân, huy chương. Trong các thế kỷ sau đó các hoàng gia châu Âu đều tạo ra sash của mình, và tuân thủ theo cách đeo này. Từ những năm giữa thế kỷ 20, các nước bắt đầu tạo sash đa sắc, để phân biệt đẳng cấp và chủng loại các bội tinh khác nhau của mỗi nước.

Cách đeo bội tinh và dải sash. Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải trong lễ phục white-tie với Bội tinh Mặt trời mọc của Nhật Bản (ảnh: Tuổi Trẻ)

Quy định về ăn mặc cũng như cách đeo bội tinh hay huân, huy chương được các quốc gia ấn định rõ, và gần như đồng bộ. Bộ Ngoại Giao mỗi nước thường có cơ quan nghi lễ để lo việc này. Ở các nước nói tiếng Anh như Mỹ hay Canada, cơ quan này gọi là Protocol Office. Mọi nghi lễ đều được cơ quan nghi lễ am tường và tuân thủ chu đáo. Ngay như thái độ của một nguyên thủ quốc gia thường được thể hiện qua mầu sắc của cra-vát cho từng trường hợp và tính chất của mỗi hội nghị quốc tế mà vị đó tham dự. Cơ quan nghi lễ phải được thông báo và sửa soạn kỹ điều này trước hội nghị. Và theo quy định quốc tế thì bội tinh, và như thế là dải sash, chỉ được đeo vào lễ phục, cho nên không được dùng với các loại thường phục như bộ veston.

Dòng cuối ghi: Không đeo bội tinh (dải sash) với bộ đồ vét (Văn phòng Nghi lễ bộ Ngoại Giao Canada)

Gần đây có trường hợp cố Tổng thống Hugo Chavez của Venezuela, khi còn sinh thời và đương chức, đã định phá lệ bằng cách đeo dải sash khi mặc veston. Bội tinh đầu tiên của Venezuela là Orden de los Liberadores do Tổng thống Simon Bolivar (1783-1830) lập ra ngày 14 tháng 9 năm 1813, từ trước khi ông trở thành tổng thống năm 1819. Ông Chavez thường xử dụng Bội tinh Francisco de Miranda của Tổng thống Eleazar Lopez Contreras ban hành ngày 28 tháng 7 năm 1939, với dải sash lúc nguyên thủy có mầu vàng tươi. Nhưng Tổng thống Chavez muốn thay đổi cổ lệ bằng cách đeo bội tinh này với dải sash mầu cờ Venezuela rộng gần 20 cm ra bên ngoài áo veston, và đè lên cra-vát. Việc này đã gây nhiều phê phán trên thế giới.

Khi đã chấp nhận gia nhập toàn cầu hóa thì các quốc gia đều nên tuân thủ các thông lệ và mực thước văn minh toàn cầu.

Tổng thống Venezuela với bội tinh và giải sash

*

Bài tiếp theo: “Lễ phục Việt Nam một thời: Áo dài

*

Cùng một tác giả:

- Vài điều về những bức tranh trong sách Đại Lễ Phục Việt Nam thời Nguyễn
- Nguồn gốc các mũ Phật giáo phổ thông ở Việt Nam
- Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật – phần 1: Vắn tắt về lịch sử Phật giáo
- Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật – phần 2: Nội dung những lời giảng ở Sarnath (Lộc Uyển)
- Tết Trung thu
- Về Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh (bài 1): Vài lưu ý trong các bản Hán văn
- Bài 2: Luận về Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh
- Lễ phục Việt Nam, bài 1: Âu phục?
- Lễ phục Việt Nam một thời: Áo dài
- Tết người Bắc ở Sài Gòn xưa
- Mật chú Aom (Án): chấn động rung và âm thanh nguyên thủy
- Prana Ahuti – Phương pháp khởi động linh khí prana
- Áo dài Việt: từ năm thân tới hai thân
- Nhân một tối đi xem diễn nhạc Flamenco
- Vẽ lại chân dung các vua triều Nguyễn: cần kỹ lưỡng, không nên tùy tiện
- Vài bài nhạc Giáng sinh phổ biến
- Về nền văn hóa Hán Nôm
- Trâm anh thế phiệt
- Áo dài Cát Tường

Ý kiến - Thảo luận

9:40 Tuesday,28.10.2014 Đăng bởi:  PhamZung
Sử (使) dụng mới là đúng. Chữ "sử" này nghĩa là dùng, đem ra dùng.
Xử (处) là xem xét và quyết định: xử lý, xử phạt...
Sẻ :là chia bớt một phần trong san sẻ, sẻ cơm nhường áo.
Xẻ: mổ, cắt, cưa... trong xẻ gỗ, xẻ làm đôi...
...xem tiếp
9:40 Tuesday,28.10.2014 Đăng bởi:  PhamZung
Sử (使) dụng mới là đúng. Chữ "sử" này nghĩa là dùng, đem ra dùng.
Xử (处) là xem xét và quyết định: xử lý, xử phạt...
Sẻ :là chia bớt một phần trong san sẻ, sẻ cơm nhường áo.
Xẻ: mổ, cắt, cưa... trong xẻ gỗ, xẻ làm đôi... 
6:31 Friday,17.10.2014 Đăng bởi:  Thiên Thủy

"Xử dụng" là đúng. "Sử dụng" mới được dùng từ 1982... "Xử lý" chứ không ai "sử lý". "Sử" chỉ dùng cho sử sách mà thôi. Có người cãi là trong Hoa ngữ phát âm là Sử. Nhưng tiếng Việt của mình dùng khác thế. Cũng như "chia xẻ" từ năm 1982 bị chữa thành chia sẻ. "Xẻ gỗ" chứ đâu có "sẻ gỗ"? Chỉ có chim sẻ thôi. Chia và xẻ ra cho nhau mà...


...xem tiếp
6:31 Friday,17.10.2014 Đăng bởi:  Thiên Thủy

"Xử dụng" là đúng. "Sử dụng" mới được dùng từ 1982... "Xử lý" chứ không ai "sử lý". "Sử" chỉ dùng cho sử sách mà thôi. Có người cãi là trong Hoa ngữ phát âm là Sử. Nhưng tiếng Việt của mình dùng khác thế. Cũng như "chia xẻ" từ năm 1982 bị chữa thành chia sẻ. "Xẻ gỗ" chứ đâu có "sẻ gỗ"? Chỉ có chim sẻ thôi. Chia và xẻ ra cho nhau mà...

 

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)

Nghèo cũng phải cho Tèo đi học

Hieniemic - Tranh từ báo NLĐ

Chất liệu và lòng tự trọng

Họa sĩ Nguyễn Đức Hòa

Tìm kiếm

Tiêu đề
Nội dung
Tác giả