Nghĩa của tiếng Việt: “Tang bồng” và “Con ghệ”
15. 05. 15 - 5:29 pm
Cùng học tiếng Việt
1. Tang bồng
Tang bồng viết đầy đủ là tang hồ bồng thỉ, hay tang bồng hồ thỉ. Cả bốn chữ này đều là Hán Việt.
Tang ở đây là cây dâu (giải thích trong bài Phù Tang), hồ là cây cung, tang hồ là cây cung làm bằng gỗ cây dâu.
Bồng là một loại cỏ gọi là cỏ bồng, theo wiki tiếng Anh và tiếng Trung Quốc giải thích là thuộc chi Ngải (gen. Artemisia). Thỉ là mũi tên, bồng thỉ là mũi tên bằng cỏ bồng.
Minh họa của Jacob Sturm cho Mugwort – một giống cỏ bồng, hình như là để làm mũi tên cho thần Cupid bắn kẻ sắp yêu. Hình từ trang này
Theo Kinh Lễ (Lễ Ký), khi nhà quyền quý sinh con trai, sẽ lấy cung bằng gỗ dâu, tên bằng cỏ bồng, bắn 6 hướng: trên, dưới, đông, tây, nam, bắc. Ý chỉ người con trai khi lớn tung hoành khắp nơi giúp đời.
“… Xạ nhân dĩ tang hồ bồng thỉ lục, xạ thiên địa tứ phương.” (Người bắn lấy cung gỗ dâu , tên cỏ bồng sáu cái, bắn lên trời, xuống đất và bốn hướng – Lễ Ký, thiên Nội tắc)
“Thỏa chí tang bồng” là thỏa chí tung hoành ấy… Tang bồng từ đó cũng mang nghĩa cái chí lớn của người nam nhi. Trong thời mà Nho học thống trị thì cái “tang bồng” còn trở thành cái nợ mà người nam giới phải mang vào thân (thật ra là tự mang rồi tự chịu).
Chúng ta gặp tang bồng phần nhiều trong thơ ca cổ.
“Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt Dở đem thân thế hẹn tang bồng. Đã mang tiếng ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông.” (Nguyễn Công Trứ, Đi thi tự vịnh)
hoặc trong câu cuối bài “Trống Cơm”:
“Một bầy tang tình con nhện Giăng tơ ấy mấy đi tìm Em nhớ thương ai Duyên nợ khách tang bồng”. 2. Congaï – Con ghệ
Để đổi không khí, chúng ta cùng tìm hiểu về một từ “hiện đại”.
Tiếng nước ngoài cũng mượn từ của tiếng Việt. Ngoài những “thuật ngữ” chỉ đồ ăn như phở, bún bò, … bắt buộc phải mượn, thì cũng có một số chữ tiếng Việt khác cũng được người Pháp sử dụng từ thời thuộc địa cho tới bây giờ.
Ví dụ như là từ congaï, hay còn viết là congaye. Từ này để chỉ những phụ nữ trẻ người thuộc địa, có khi để chỉ vợ hoặc người tình người An Nam của những công chức thuộc địa hoặc đôi khi tiêu cực hơn, chỉ gái làng chơi.
Một hình vẽ (1922) từ trang này, có tên: “Gái Paris đóng congaï Việt Nam, khỏa thân”. Lời chú bên trên là: “Luôn luôn theo kịp mode, gái Paris đóng làm congaï”. Câu bên dưới rất linh tinh là “Ông thầy tu già An Nam liệu có còn gỗ đá?”
Có người cho rằng chữ này là nguồn gốc của từ ghệ chúng ta bây giờ vẫn dùng. Theo ý kiến đó, từ con ghệ bắt đầu xuất hiện ở miền Nam khi người Mỹ có mặt. Cách người Mỹ đọc chữ congaï để chỉ những cô gái đi với Tây đã sinh ra chữ con ghệ.
Bìa sách “Congaï – người tình Đông Dương” của Harry Hervey
Hiện nay, phần đông mọi người cho rằng ghệ là tiếng lóng, không nên dùng. Tuy nhiên một số vùng ở Nam Bộ, nhất là miền Tây, từ này được dùng khá bình thường.
Ngoài ra, còn có chữ niakoué trong tiếng Pháp, vốn là mượn từ chữ nhà quê của tiếng Việt. Chữ này bây giờ dùng làm từ lóng để chỉ người châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
18:24Sunday,17.5.2015Đăng bởi: Cùng học tiếng Việt
Ý của Soi nói "linh tinh" khi dịch chú thích hình đó có nghĩa là để hình ông quan mà lại chú là ông thầy chùa. Chứ mình thấy Soi dịch rester de bois thành "gỗ đá" là hay lắm đấy chứ, Soi còn định dịch là "trơ như phỗng" nữa nhỉ :D ...xem tiếp
18:24Sunday,17.5.2015Đăng bởi: Cùng học tiếng Việt
Ý của Soi nói "linh tinh" khi dịch chú thích hình đó có nghĩa là để hình ông quan mà lại chú là ông thầy chùa. Chứ mình thấy Soi dịch rester de bois thành "gỗ đá" là hay lắm đấy chứ, Soi còn định dịch là "trơ như phỗng" nữa nhỉ :D
14:38Sunday,17.5.2015Đăng bởi: trung – hanoï
Câu bên dưới không hề linh tinh. Rester de bois là cụm từ, ý nói không có phản ứng gì, "trơ như khúc gỗ"
Câu này có thể dịch là: liệu thầy tu già An Nam có giữ được vẻ lạnh lùng không?
...xem tiếp
14:38Sunday,17.5.2015Đăng bởi: trung – hanoï
Câu bên dưới không hề linh tinh. Rester de bois là cụm từ, ý nói không có phản ứng gì, "trơ như khúc gỗ"
Câu này có thể dịch là: liệu thầy tu già An Nam có giữ được vẻ lạnh lùng không?
...xem tiếp