Bàn luận

Lời thầy dạy có khi cũng thiếu logic 19. 10. 12 - 3:30 pm

Phó Đức Tùng - Nguyễn Đình Đăng - Nguyên Tánh

Gần đây trên Soi có một số tranh luận (trong phần cmt) về Phật giáo. Xét thấy nhiều họa sĩ ta cũng quan tâm đến tôn giáo này, và bản thân Soi cũng ú ớ về lãnh vực này, xin phép trích lại các cmt của mọi người để đưa thành bài, để mọi người dễ trao đổi.

Trước mắt Soi cứ cho vào phần Thảo Luận, về lâu dài, nếu đủ dày dặn, xin lập thành mục riêng. Tên các bài tách ra do Soi đặt.

Cũng mong mọi người cùng vào trao đổi theo tinh thần nhà Phật, ôn tồn, không quá phân quá biệt, và lấy mục đích tự mình vỡ vạc làm chính.

 

Trong cmt của bài Tôi không thấy tính thiền ở đây, tính vô ngã cũng vậy… họa sĩ NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG trích dẫn:

Đại thiền sư Nanpo Shōmyō (南浦紹明=Nam Phố Thiệu Minh) (1235 – 1309) nói về Thiền:

Có một thực tại trước cả trời và đất;
Nó không có hình thù, nói chi tới tên gọi;
Mắt không thấy được nó; nó không có tiếng để tai có thể nghe thấu;
Gọi nó là Tâm hay Phật thì sẽ phá vỡ chân tính của nó,
Bởi khi đó nó sẽ trở thành bông hoa hư ảo trong không trung;
Nó không phải Tâm hay Phật;
Tuyệt đối im lặng, mà vẫn toả sáng một cách kỳ bí;
Chỉ có con mắt sáng suốt mới nhận thức được nó;
Nó là Pháp đích thực vượt ra khỏi hình dạng và âm thanh;
Nó là Đạo không dính dáng gì tới lời nói.
Để mê hoặc những kẻ mù,
Đức Phật đã nhả ra những lời vàng ý ngọc,
Khiến trời và đất từ đó rối tinh như canh hẹ.
Hỡi các bạn quý mến của tôi có mặt tại đây,
Nếu các bạn muốn nghe giọng nói vang rền như sấm của Pháp,
Hãy trút hết lời, làm trống rỗng mọi ý nghĩ
Bởi khi đó bạn có thể sẽ nhận ra Nhất Bản Chất.
Đại Giám Huệ Năng nói: “Phật Pháp là thứ không thể thấu được chỉ bằng cảm tính con người.”

 

PHÓ ĐỨC TÙNG đối thoại

Anh Đăng, rảnh rỗi tranh luận tí nhé.

Rất có thể có những thứ không thể nói được, không thể cảm nhận bằng giác quan, mà phải bằng một cách trực tiếp nội tâm nào đó. Tuy nhiên, đã là không nói được thì không thể nói, còn những gì đã là lời nói thì phải tuân theo logic, đấy là giá trị của lời nói. Lời nói có thể không phải sự thật, mà chỉ dùng để hướng tới sự thật, như ngón tay chỉ mặt trăng, nhưng ngay cả như vậy nó cũng phải thuyết phục được người ta là nó đang chỉ mặt trăng chứ không phải chỉ vào đèn dầu, bởi vì rõ ràng nếu ngón tay chỉ mặt trăng thì rời ngón tay có thể thấy trăng, nhưng không phải cứ rời bất kỳ ngón tay nào cũng thấy được trăng. Em thấy những lời dạy anh trích có rất nhiều điểm đáng ngờ.

Về Đại thiền sư Nanpo Shōmyō (南浦紹明=Nam Phố Thiệu Minh) (1235 – 1309) nói về Thiền:
“Có một thực tại trước cả trời và đất;”
Nói như vậy là ông khẳng định có “một”, có “thực tại” “trước trời và đất”. Như vậy là đã có thể đếm được, xác thực được, định được thời gian.

“Nó không có hình thù, nói chi tới tên gọi”;
Đây lại là một bước xác định tiếp. Nhưng thế nào gọi là không hình thù? Tức là không có thuộc tính nội tại nào, hay không có ranh giới? Nếu không có thuộc tính, sao biết là “thực tại”?, nếu không có ranh giới, sao đếm được là “một”?

“Mắt không thấy được nó; nó không có tiếng để tai có thể nghe thấu”;
Điều này chưa có gì đặc biệt, thiếu gì thứ mắt không thấy được, tai không nghe được. Hay nói với kiến thức ngày nay thì mắt không thể thấy được, tai không thể nghe được bất kỳ thực tại nào.

“Gọi nó là Tâm hay Phật thì sẽ phá vỡ chân tính của nó,
Bởi khi đó nó sẽ trở thành bông hoa hư ảo trong không trung;
Nó không phải Tâm hay Phật”;
Đoạn trên chỉ giảng kỹ hơn chuyện nó không có tên.

“Tuyệt đối im lặng, mà vẫn tỏa sáng một cách kỳ bí”;
Thế nào là tuyệt đối im lặng? Làm sao sự tuyệt đối im lặng lại có thể tỏa sáng, tức là một động từ? Nghịch lý này lý giải thế nào?

“Chỉ có con mắt sáng suốt mới nhận thức được nó;
Nó là Pháp đích thực vượt ra khỏi hình dạng và âm thanh;
Nó là Đạo không dính dáng gì tới lời nói.
Để mê hoặc những kẻ mù,
Đức Phật đã nhả ra những lời vàng ý ngọc,
Khiến trời và đất từ đó rối tinh như canh hẹ.”
Điều này nghe có lý, nhưng thiền sư đã nói gì khác với lời vàng ý ngọc của Đức Phật? và điều gì cho phép hy vọng là sau khi nghe những lời trên của thiền sư, thế giới sẽ không rối như  canh hẹ?

“Hỡi các bạn quý mến của tôi có mặt tại đây,
Nếu các bạn muốn nghe giọng nói vang rền như sấm của Pháp”;
Ít ra ông Phật còn bỏ công giải thích tại sao cần giải thoát, còn nghe thiền sư nói, kiểu như nếu bạn tò mò thì ghé qua xem.

“Hãy trút hết lời, làm trống rỗng mọi ý nghĩ
Bởi khi đó bạn có thể sẽ nhận ra Nhất Bản Chất”;
Nói thật đơn giản, nhưng có thể nào trút hết lời, làm trống rỗng mọi ý nghĩ được không? Cơ chế của việc nghĩ là gì? Lời liên quan đến sự tồn tại của con người thế nào? Làm sao trút bỏ hết chúng được?

“Đại Giám Huệ Năng nói: ‘Phật Pháp là thứ không thể thấu được chỉ bằng cảm tính con người.’”
Thế nào là cảm tính con người? Nếu ta có trong mình một loại cảm tính khác, phật tính chẳng hạn, thì cái đó có phải là “cảm tính con người” không? Giống như  óc trong đầu con chó có thể không gọi là óc con chó được không? Còn nếu cái cần để thấu Phật pháp không nằm trong ta, thì lấy gì để nói là con người có thể thấu Phật pháp. Còn nếu nói “Đã là người không thể thấu Phật pháp”, đã “thấu Phật pháp không phải người”, thì lý do gì để ta muốn tìm Phật pháp? Nếu ta vốn không phải người, thì ta tìm Phật pháp làm gì?, và nếu ta vốn là người, thì ta lại càng không tìm Phật pháp làm gì.

 

NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG trích dẫn

Lời dạy của 7 Đức Phật:
Đừng làm điều ác,
Mà chỉ làm việc thiện,
Và giữ cho tư duy mình thuần khiết –
Đó là lời dạy của tất cả các Đức Phật

 

PHÓ ĐỨC TÙNG đối thoại

Về lời dạy của 7 Đức Phật
Thế nào là thiện, thế nào là ác? Cơ sở của việc nhận ra thiện ác và muốn làm việc thiện nằm ở đâu. Nếu chúng là năng lực và nhu cầu nội tại, thì cần gì Phật dạy. Nếu nó không phải khả năng và nhu cầu nội tại, thì chỉ một câu khẩu hiệu như thế là đủ hay sao?

Tương tự, có thể thấy gần như câu nào cũng không chặt chẽ. Không phải là mình muốn bới lông tìm vết, hay cố tình không hiểu, nhưng quả thực là rất nhiều lý lẽ của Phật giáo, nhất là những lý luận sau này, không được chặt chẽ. So với sự tiến bộ của triết học phương Tây, thấy quả là có vấn đề. Đã đành là chân lý có thể không thay đổi từ hàng mấy ngàn năm qua, nhưng cách truyền đạt chân lý thì không thể dậm chân tại chỗ. Như chính ông Phật nói, đạo chỉ một, như sông Hằng, nhưng mỗi loài vật lại qua sông bằng cách khác. Không thể giảng đạo cho những người ngày nay bằng đúng những lời lẽ đã từng giảng cho nông dân Ấn Độ hơn 2000 năm trước. Và thời đó, ông Phật rõ ràng là thông tuệ hơn tất cả các đối thủ, vì thế ông có thể phản biện lại mọi thắc mắc, không bao giờ phải dùng kế cấm nói. Và dù thực sự ông Phật có giác ngộ hay không, có đạt tới Niết bàn hay không, nhưng ít nhất ông cũng biết hơn hẳn những người cùng thời, và vì thế họ có thể tin là ngoài những thứ đó ra, tri thức của ông có khả năng là vô hạn. Còn nếu này nay, những người tự cho là thông tuệ, quán suốt vũ trụ, thông liền cổ kim, mà chỉ nói cho đúng logic như một học giả hạng xoàng, với tri thức hết sức nông cạn, mù lòa thôi cũng không xong thì ai mà dám tin được.

 

Lời bình của NGUYÊN TÁNH

KTS Phó Đức Tùng: Hoàn toàn không có ý xúc phạm anh. Cũng vì tôn trọng anh nên xin được nói thẳng thẳn.

Cảm ơn anh vì bài phân tích. Nó đã hoàn toàn  bộc lộ ra dấu vết CHỒN HOANG. Lý luận như anh có thể gọi là đến nơi đến chốn, nhưng nó ngô nghê đến tức cười. Mang cái trí thức, lý luận đó mà để hiểu THIỀN thì chẳng khác tìm lông rùa sừng thỏ. Anh hãy cảm nhận một cánh hoa mong manh, có cần phải thông kim bác cổ đâu mà sao vẫn dung thông toàn bộ đất trời trong đó. Thiền giản dị hơn cái cách hiểu đầy phức tạp và áp đặt của anh nhiều. Một người đã chạm tới Thiền vẫn có thể là một người NGU hơn anh cả ngàn lần, cái họ hơn anh chỉ là một trực nhận ngoài lý trí đó thôi (Lão tử hoàn toàn thấy rõ điều này khi nói “Trí giả nhược ngu“). Và Thiền cũng chẳng phải là một trải nghiệm nội tâm bí ẩn theo cách anh áp đặt đâu. Mà thực ra anh Tùng chẳng phải là trường hợp cá biệt, hầu như tất cả các nhà học giả cũng vậy thôi. Đó là cơn đại bệnh điên đảo ngàn năm của loài người, mà nhiều bậc sáng trí gọi là CƠN MẤT TRÍ TẬP THỂ.

Như anh Đăng, bài comment trước thì phản đối chuyện “Thiền và lý luận không thể đi với nhau”. Bài sau lại đăng một lời dạy vô cùng minh triết của Thiền sư. Chẳng hay anh có thấy trong mình đầy mâu thuẫn? Cuối cùng, xin được hỏi các anh điều này. Giá trị thực sự của các anh nằm ở đâu? Giá trị của một người sống Thiền nằm ở đâu. Nếu thử làm một thí nghiệm, cho uống một loại thuốc mất hoàn toàn trí nhớ  (theo kiểu format về con số 0) thì chuyện gì xảy ra. Thiền sư vẫn là thiền sư, còn những học giả thành cái gì.

Trân trọng.

 

PHÓ ĐỨC TÙNG trả lời

Bạn Nguyên Tánh
Tôi không bao giờ cho rằng lý luận có thể hiểu được hay tiếp cận Thiền, mà chỉ đang tìm cách dùng lý luận để tiếp cận và hiểu lý luận, bởi lẽ những điều mà các bậc thiền sư nói không thể là thiền (là thứ không thể nói như bạn định nghĩa), mà là lý luận. Tôi không có tham vọng lớn là thành thiền sư hay ngộ đạo, mà chỉ có cái mong muốn nhỏ thôi là hiểu được những thứ đơn giản của lý trí.

Tất nhiên, một thiền sư thực thụ sẽ chỉ coi tôi như mọi loài chúng sinh cỏ rác, vì thế bạn gọi là Chồn, hay chó, hay cứt thì cũng vậy thôi.

Tôi vô cùng yêu thích đạo Phật và kính ngưỡng ông Phật, vì dù không hiểu gì về bản chất, tôi cũng kính phục trí tuệ siêu việt và tư duy sắc sảo của ông ấy, đó là thứ mà trí óc nhỏ nhoi của tôi có thể cảm nhận được. Tôi chẳng thấy ông ấy nói câu nào ngu cả, và Lão tử cũng chưa thấy nói câu nào ngu. Vậy theo cách hiểu của bạn về câu “trí giả nhược ngu” nghĩa là người trí thì ngu thì hai ông này chắc chắn không phải trí giả. Còn loại trí giả thật mà bạn nói có khả năng ngu hơn tôi ngàn lần thì tôi cũng không có cái tham vọng trở thành người như thế.

 

NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG

Các bạn thân mến,
 
Các bạn không những có quyền mà cần nghi ngờ bất cứ cái gì các bạn thấy phi lý. Aristotle từng nói: “Dấu ấn của một trí tuệ có học thức là khả năng tiêu khiển bằng một ý tưởng mà không cần chấp nhận nó.” (It is the mark of an educated mind to be able to entertain a thought without accepting it.)

Tôi không thấy mâu thuẫn gì giữa comment rằng Thiền có nguồn gốc từ lý thuyết Dhyana của người Hindu và những trích dịch của tôi về Thiền. Những đoạn này tôi dịch từ cuốn “Manual of Zen Buddhism” (Sổ tay Thiền Phật) xuất bản năm 1935 của D.T. Suzuki (1870 – 1966)- sinh thời là thiền sư Nhật Bản đồng thời là giáo sư triết học Phật giáo và tiến sĩ văn học. Ông có nhiều công trong việc truyển bá Thiền học sang phương Tây và Hoa Kỳ qua việc giảng dạy, dịch sách Thiền sang tiếng Anh. Cá nhân tôi thấy dễ đọc hơn những sách dịch chứa đầy từ Hán–Việt. Có lẽ đó là một trong những lý do vì sao đây là một trong những cuốn sách về Thiền khá nổi tiếng tại phương Tây. Tôi trích dịch vài đoạn không ngoài mục đích khêu gợi trí tò mò để ai muốn tìm hiều về Thiền (bằng tiếng Anh) có thể tải xuống cả cuốn mà đọc. Trong cuốn này có các bài kinh kệ và các nhận định về Thiền của một số Thiền sư Nhật Bản và Trung Hoa. Dĩ nhiên các nhận định đó không hoàn toàn original, ví dụ nhận định về Thiền cuả Nanpo Shomyo khá giống phần mở đầu Đạo Đức Kinh của Lão Tử từ t.k. 4 tr CN.
 
Tôi nghĩ Thiền, hay hội họa hay âm nhạc hay khoa học – muốn hiểu được cũng cần phải học và thực hành, và khi đã học và hành rồi thì sẽ tránh được những tranh cãi vô bổ. Ví dụ khi đã học hội họa và âm nhạc ở một mức trên trung bình rồi, thì những câu hỏi như “Cái này có nghĩa gì?”, “Cái này đẹp ở chỗ nào?” sẽ tự chúng biến mất, có nghĩa là câu trả lời cũng trở nên không cần thiết luôn! Thay vì làm những so sánh ngây ngô đại loại như nocturne số 1 của Chopin hay hơn valse số 7 của Chopin, người ta sẽ cảm nhận được, chẳng hạn, sự khác nhau giữa phong cách của Vladimir Horowitz và Alfred Brendel khi hai ông chơi cùng một Impromptu G giáng trưởng Opus 90 số 3 của Schubert. Người ta sẽ hiểu Nikolai Lugansky hoặc Lazar Berman chơi Moment musical Op. 16 No. 4 của Rachmaninov hay hơn pianist XYZ ở chỗ nào cho dù kỹ thuật của ông XYZ cũng rất oách. Đối với một người không học và nghiên cứu vật lý và toán học thì có thể nói gì về cơ học lượng tử ngoài mức phổ biến khoa học thường thức?
 
Cho nên những trích dẫn nói trên chỉ có ích nếu ta coi chúng như một sự gợi mở, kích thích hứng thú để ta tự tìm hiểu sâu, và con đường có mở ra cho mỗi người hay không là hoàn toàn do bản thân từng người. Ngược lại những trích dẫn của các tiền bối sẽ hoàn toàn vô ích nếu chúng chỉ là cái cớ để cãi vã.
 
Khi Đức Phật lâm chung, các đệ tử vây quanh ngài hỏi ai sẽ làm thầy họ sau khi ngài băng hà, Đức Phật nói: “Hãy làm cây đèn soi sáng chính mình.”

 

*

Bài liên quan:

– Lời thầy dạy có khi cũng thiếu logic   
– Khi Phật không giảng nữa, và đèn ta tối thì sao?

 

*

Cùng một tác giả:

- Phan Rang–Tháp Chàm: Bản sắc… Lại vẫn là chuyện bản sắc
- Buôn Ma Thuột – chiếc Kpan của người Êđê
- Trăng rằm đầu hạ
- Như một con ong, tôi đi tìm mật bạc hà
- Muốn giản thì phải tinh, muốn tinh thì phải cầu kỳ. Ta thì không tinh…
- Đi tìm cái khác biệt để đạt được cái hòa đồng
- Tam quan, kiêng kị, và nhà của người hay nhà của ô tô
- Nói qua chút xíu về phần khí, phần âm trong phong thủy
- Có nhiều thứ rất nên học hỏi từ công trình của Võ Trọng Nghĩa
- Nhà 32m vuông: Một vài đề xuất với Lê Phương
- Góp ý cho Art C, căn hộ 79m
- Với các bạn đã xem “Cuộc đời của Pi”, về câu cuối
- Dầu olive – càng khắc nghiệt càng ngon
- Hãy để tranh là tranh, thịt là thịt, trong từ thiện
- Tôi không thấy tính thiền ở đây, tính vô ngã cũng vậy…
- Bàn về gái đẹp
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam...- Bài 5: Đường đi không có gì là khó...
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam... - Bài 4: Rẽ một chút sang Kinh Dịch nhé
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam...- Bài 3: Làm nghệ sĩ là làm tấm gương trong
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam... - Bài 2: Lớn lên để thành quân tử phương Đôn
- Đứa trẻ nghệ thuật Việt Nam...- Bài 1: Quan điểm ta như đứa trẻ sơ sinh
- Nhân bình ảnh Skoglund, bàn về Surrealism
- Giống vỏ nhưng không giống ruột: Mối liên hệ giữa Cezanne, Gauguin và Van Gogh với trường phái Biểu
- Bàn về đồng tính: 6 biện pháp để giảm bớt kỳ thị
- Chỉ vạch ra cái xấu, cái ác thì vẫn chỉ là phóng sự
- Nhân bình tranh của Lee Jin Ju: Nghệ thuật là để xin (được chia sẻ)? Hay để cho (giải pháp)?
- Nếu không có “essence”, Pollock hơn hải cẩu Tuần Châu ở chỗ nào?
- Bạn chọn lối nào: Không còn hình nữa là trừu tượng? Chắt được tinh chất là trừu tượng?
- Ai là cụ tổ của hội họa trừu tượng? (Cập nhật 2 và kết thúc?)
- Bài 1: Trong hang động của Platon
- Bài 2: Khái niệm “đẹp” của Platon
- Bài 3 – Các khái niệm quan trọng của Platon: Idea, Form và Illusion
- Bài 4: Theo Platon, trừu tượng là gì?
- Khi Phật không giảng nữa, và đèn ta tối thì sao?
- Lời thầy dạy có khi cũng thiếu logic
- Dùng thuyết nhân chủng học nào cho việc giãn dân phố cổ?
- Nhân chuyện cây sanh Hải Hậu, nghĩ về sự quái dị
- Chặt cây ở Hà Nội: cứ để yên, đừng có điên mà bắt chước ngày ấy trồng cây ấy
- Nhân xem phim La Zona, bàn về gated community
- Ở Philadelphia, ngày 7.4. 2015
- Đi dọc một đại lộ, nghĩ về một tầm nhìn
- Đến bảo tàng nghệ thuật, nghĩ tới hai chữ “thiên tài”
- Tranh tường ở đâu cũng thế: càng có tổ chức càng đờ đẫn?
- Não, cơ thể, và điện tử: hay như nghệ thuật tại Viện Franklin
- Boston: Trong lâu đài và giữa đồng hoa, nghĩ về tự do
- Phố đi bộ Hà Nội: quá hay và bất ngờ
- Dòng sông và đô thị
- Muốn biết bản sắc một dân tộc, hãy nhìn vào con gà của họ (bài 1): gà Nhật, gà Tàu, gà Indo
- Con phượng hoàng máy
- Nha Trang tháng 12. 2011: Chuyện ăn mực
- Tranh hang động thời Đồ Đá Cũ: đẹp nhờ đâu?
- Ngắm Venus Figurines, nghĩ về thời hoàng kim “vú to mông nở”
- Về nhà, nhà tắm và cửa sổ
- Xem tranh Nguyễn Đình Hoàng Việt: quả là không uổng công đi
- Cánh mật đìu hiu

*

Bài tương tự:

- Phật giáo qua tranh: Chọn trung đạo, đến dưới cây bồ đề
- Phật giáo qua tranh: Thần Đất, con gái Ma Vương… phe nào cũng lộng lẫy
- Từ nữ thần Đất đến ông Địa: Có liên quan hay là không liên quan?
- Phật giáo qua tranh: phật A Di Đà và phật Thích Ca: là hai hay là một?
- Phật giáo qua tranh: Ao ngòi ở Tây Phương Cực Lạc
- Vì sao có vị lúc gọi là Phật, lúc gọi là Bồ tát? (bài 1): 8 điều kiện để thành Bồ tát
- Mật chú Aom (Án): chấn động rung và âm thanh nguyên thủy
- Prana Ahuti – Phương pháp khởi động linh khí prana
- Về Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh (bài 1): Vài lưu ý trong các bản Hán văn
- Bài 2: Luận về Bát-nhã Ba-la-mật-đa tâm kinh
- Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật – phần 1: Vắn tắt về lịch sử Phật giáo
- Bài thuyết pháp đầu tiên của Đức Phật – phần 2: Nội dung những lời giảng ở Sarnath (Lộc Uyển)
- Nguồn gốc các mũ Phật giáo phổ thông ở Việt Nam
- Lời thầy dạy có khi cũng thiếu logic
- Khi Phật không giảng nữa, và đèn ta tối thì sao?
- Phật giáo qua tranh: Một câu chuyện của Bồ tát từng ra gây rất nhiều tranh cãi
- Phật giáo qua tranh: Lời nguyện ở lại của Bồ tát
- Phật giáo qua tranh: Nhìn hoa sen và nhành dương để nhận ra bộ ba đến từ Tây Phương
- Phật giáo qua tranh: Nhìn mãnh thú để nhận ra Thích Ca tam tôn

Ý kiến - Thảo luận

7:49 Wednesday,4.11.2015 Đăng bởi:  Candid
Anh Tùng: Lục Tổ Huệ Năng vẫn được cho là người theo phái đốn ngộ cũng có nói đại ý, pháp không phân biệt đốn tiệm nhưng người thì có kẻ trí, kẻ ngu, tuỳ người mà có phương pháp để ngộ. Em cho rằng bây giờ có ít bậc trí giả như Lục Tổ chỉ trong sát na ngộ được, đối với những người này thì 10 ngày là ưuas nhiều. Còn lại đối với đa số kẻ trần t
...xem tiếp
7:49 Wednesday,4.11.2015 Đăng bởi:  Candid
Anh Tùng: Lục Tổ Huệ Năng vẫn được cho là người theo phái đốn ngộ cũng có nói đại ý, pháp không phân biệt đốn tiệm nhưng người thì có kẻ trí, kẻ ngu, tuỳ người mà có phương pháp để ngộ. Em cho rằng bây giờ có ít bậc trí giả như Lục Tổ chỉ trong sát na ngộ được, đối với những người này thì 10 ngày là ưuas nhiều. Còn lại đối với đa số kẻ trần tục như chúng ta thì chỉ có tiệm ngộ, mà tiệm ngộ thì đừng nói 10 ngày. Em nghĩ tu thiền không quan trọng bằng hành thiền, thiền trong chính những hoạt động mọi ngày, không ngơi nghỉ như bê bát canh nóng mà không giật mình đổ.

Em thấy nhược điểm của thiền tông là cần được một vị thầy đã ngộ để ấn chứng. Thời buổi mạt pháp này lấy gì để đảm bảo người ấn chứng đã được ấn chứng.

Về chuyện đi tìm thì em tin là nếu quả thực mong muốn thì sẽ gặp. 
17:18 Tuesday,3.11.2015 Đăng bởi:  phó đức tùng

Candid,
đúng là có người nói có thể ngộ đạo bằng cách đốn ngộ, một sátna là thành Phật. Những người khác lại nói phải tiệm tu muôn kiếp mới thành được. Nói gì thì nói, mình cũng chưa gặp được ai ngộ đạo, kể cả theo cách này hay cách khác. Tất nhiên giống như cuốn Hành trình phương Đông có nói, người thường chẳng thể gặp châ
...xem tiếp

17:18 Tuesday,3.11.2015 Đăng bởi:  phó đức tùng

Candid,
đúng là có người nói có thể ngộ đạo bằng cách đốn ngộ, một sátna là thành Phật. Những người khác lại nói phải tiệm tu muôn kiếp mới thành được. Nói gì thì nói, mình cũng chưa gặp được ai ngộ đạo, kể cả theo cách này hay cách khác. Tất nhiên giống như cuốn Hành trình phương Đông có nói, người thường chẳng thể gặp chân nhân, muốn gặp được, trước hết bản thân mình phải là ai, sau đó, cũng phải dày công tìm may ra mới gặp được.

Quang,
trong 3 cái Tham, Sân, Si, tham là thứ tương đối dễ giải quyết nhất, vì dù sao nó cũng bị trí óc chi phối phần nào, 2 thứ kia gần như vô thức, rất khó tác động. Chẳng cần thiền, cũng đủ biết thực ra con người không cần gì nhiều để có một cuộc sống lành mạnh và hạnh phúc. quần áo 1 bộ đủ cho cả đời, ăn uống ngày một dúm hạt, vài cọng rau là đủ sống, nhà cửa thì cũng chẳng cần.
Vậy tại sao mọi người lại đâm đầu vào làm rất nhiều việc cả ngày? Đối với nhiều người, đó chẳng qua là tham lam. Nhưng nhiều người khác, nhất là những người đã thực hành thiền như bạn, hẳn phải hiểu rằng việc tham lam vật chất chẳng có ý nghĩa gì. Thế nhưng chính bạn cũng vẫn làm rất nhiều việc, đó là tại sao?
Theo mình thì nguyên nhân chính vẫn là người ta không nhìn thấy có cách nào giết thời gian một cách hiệu quả, hữu ích hơn. Ta có thể ngồi thiền 10 ngày, vì 10 ngày đó ta thấy thu hoạch được cái mới, rồi lại có cái để kể 10 năm sau. Đó cũng là một dạng việc, một dạng tham. Khi nào bạn chỉ cho tôi thấy 1 người qua 10 ngày đi thiền mà quyết định thiền cả đời và làm được điều đó, khi đó mới thực gọi là người đó ngộ ra được điều gì từ khóa thiền 10 ngày.

 

(Đề nghị gõ chữ tiếng Việt có dấu và không viết tắt)

Vô cảm đến mức này thì bỏ xừ cái nền Mỹ thuật Việt

Bài của Hoàng Lan Anh từ Người Lao Động - Soi bình luận

Tìm kiếm

Tiêu đề
Nội dung
Tác giả